DỰ ÁN SỬA CHỮA VÀ NÂNG CAO AN TOÀN ĐẬP NƯỚC VIỆT NAM (DRSIP)

Chính phủ đã nhận được một khoản vay từ Ngân hàng thế giới để thực hiện một dự án với tên gọi Dự án Sửa chữa và Nâng cao An toàn đập Việt Nam (gọi tắt Dự án DRSIP) nhằm hỗ trợ thực hiện Đề án Bảo đảm an toàn hồ chứa thông qua khôi phục và nâng cấp các đập ưu tiên, tăng cường năng lực quản lý và hoạt động an toàn đập để bảo vệ các cộng đồng hạ lưu và cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là Chủ đầu tư của dự án, và Ban Quản lý Trung ương các dự án thủy lợi (CPO) sẽ trực tiếp quản lý việc thực hiện dự án.

1. Ngân hàng Thế giới (World Bank):

Ngân hàng Thế giới (World Bank) là một tổ chức tài chính quốc tế nơi cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn. Ngân hàng Thế giới tuyên bố mục tiêu chính của mình là giảm thiểu đói nghèo.

Ngân hàng Thế giới khác với Nhóm Ngân hàng Thế giới, trong đó Ngân hàng Thế giới bao gồm hai cơ quan: Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD) và Hội Phát triển Quốc tế (IDA), trong khi Nhóm Ngân hàng Thế giới còn bao gồm thêm ba cơ quan khác: Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID) và Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA).

Ngân hàng Thế giới được thành lập tại hội nghị Bretton Woods năm 1944 cùng 3 tổ chức khác trong đó có Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cả WB và IMF đều có trụ sở tại Washington DC, và có mối quan hệ gần với nhau.

Mặc dù có nhiều nước tham dự Hội nghị Bretton Woods Conference, nhưng Hoa Kỳ và Liên Hiệp Anh là có quyền lực nhất và chiếm ưu thế trong các cuộc đàm phán.

2. Lịch sử hình thành và phát triển Bộ NN và PTNT:

I. THỜI KỲ 1945-1954, KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC.

BỘ CANH NÔNG (1945)

Ngày 14 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết nghị về việc lập Bộ Canh nông.

BỘ GIAO THÔNG CÔNG CHÍNH (1945)

Bộ Giao thông công chính được thành lập theo Tuyên cáo ngày 28/8/1945 của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

II. THỜI KỲ 1955-1975, XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC.

BỘ NÔNG LÂM (1955)

Tại phiên họp các ngày 1,2 và 4 tháng 02 năm 1955 của Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết đổi tên Bộ Canh nông thành Bộ Nông lâm.

BỘ THUỶ LỢI VÀ KIẾN TRÚC (1955)

Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quyết định tách Bộ Giao thông Công chính thành 2 Bộ:

Bộ Giao thông và Bưu điện

Bộ Thuỷ lợi [1] và Kiến trúc

BỘ THUỶ LỢI (1958)

Ngày 29/4/1958, tại kỳ họp thứ 8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa I ra Nghị quyết tách Bộ Thủy lợi và Kiến trúc thành hai Bộ: Bộ Thủy lợi và Bộ Kiến trúc.

BỘ THUỶ LỢI VÀ ĐIỆN LỰC (1960)

Cuối năm 1960, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, với xu thế phát triển mạnh thuỷ điện, Nhà nước chuyển Tổng cục Điện lực thuộc Bộ Công nghiệp nặng sáp nhập vào Bộ Thuỷ lợi, đổi tên Bộ Thuỷ lợi thành Bộ Thuỷ lợi và Điện lực.

BỘ NÔNG NGHIỆP, BỘ NÔNG TRƯỜNG,

TỔNG CỤC THUỶ SẢN, TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP (1960)

Cuối tháng 4 năm 1960, Hội đồng Bộ Trưởng đã họp, thảo luận và ra Nghị quyết trình Quốc hội, đề nghị Quyết định tách Bộ Nông lâm thành 4 tổ chức: Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng Cục Thuỷ sản và Tổng Cục Lâm nghiệp

BỘ THUỶ LỢI (1962)

Ngày 28 tháng 12 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 216-CP tách Tổng cục Điện lực ra khỏi Bộ Thuỷ lợi và Điện lực để chuyển sang trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng, đổi tên Bộ Thuỷ lợi và Điện lực thành Bộ Thuỷ lợi.

UỶ BAN NÔNG NGHIỆP TRUNG ƯƠNG (1971)

Năm 1969, thực hiện chủ trương phân cấp quản lý các Nông-Lâm trường cho địa phương quản lý, Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Tổng cục Lâm nghiệp chỉ được giao quản lý trực tiếp một số Nông Lâm trường, Trạm trại chủ yếu làm giống và thí nghiệm; đồng thời Chính phủ mong muốn có một tổ chức đủ mạnh để điều hành sản xuất nông nghiệp đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở Tờ trình của Hội đồng Chính phủ gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp, ngày 01 tháng 4 năm 1971, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã họp ra Nghị quyết số 1066-NQ/TVQH phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương [2] trên cơ sở sáp nhập Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Ban Quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

III. THỜI KỲ 1976 – 1985, ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

BỘ HẢI SẢN (1976)

Trước đòi hỏi khách quan và bức thiết phát triển nghề cá biển, Quốc hội Việt Nam thống nhất trong kỳ họp đầu tiên năm 1976 đã thành lập Bộ Hải sản.

BỘ LÂM NGHIỆP (1976)

Cũng trong kỳ họp này, theo Nghị quyết của Quốc hội, trong cơ cấu của Hội đồng Chính phủ có Bộ Lâm nghiệp.

Như vậy, từ tháng 7/ 1976, cơ quan quản lý lâm nghiệp, thuỷ sản toàn quốc đã chuyển vị trí từ trực thuộc Hội đồng Chính phủ (Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục Thuỷ sản) thành cơ quan của Hội đồng chính phủ (Bộ Hải sản, Bộ Lâm nghiệp), có chức năng và quyền hạn như các Bộ, cơ quan nganh Bộ khác của Hội đồng Chính phủ.

BỘ NÔNG NGHIỆP (1977)

Nền nông nghiệp nước ta được đặt ra trước nhiệm vụ mới trên địa bàn cả nước. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 52-CP sửa đổi một số tổ chức của Bộ Nông nghiệp:

BỘ CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM, BỘ LƯƠNG THỰC (1981)

Ngày 22/01/1981, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc thành lập hai Bộ: Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ Lương thực trên cơ sở tách Bộ Lương thực và thực phẩm. [3]

BỘ THUỶ SẢN (1981)

Quốc hội khoá VII (tháng 7/1981) đã quyết định thành lập Bộ Thuỷ sản.

IV. GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI TỪ 1986 ĐẾN NAY

1) Thời kỳ 1986 đến 1995.

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM (1987)

– Thực hiện chủ trương phát triển nền nông nghiệp Việt Nam gắn với chế biến, tiêu thụ theo một quy trình khép kín từ sản xuất-chế biến-tiêu thụ, ngày 16/2/1987, Hội đồng Nhà nước đã có Nghị quyết số 782 NQ HĐNN 7 về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trên cơ sở sáp nhập 3 Bộ: Nông nghiệp, Lương thực [4], Công nghiệp thực phẩm [5].

2) Thời kỳ từ 1995 đến 7/2007.

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (1995)

Kế thừa và phát huy thành tựu 10 năm đổi mới tổ chức các cơ quan hành chính Nhà nước, Chính phủ đã có định hướng thu gọn các Bộ quản lý ngành hiện có theo chiều hướng chuyển từ Bộ quản lý đơn ngành sang mô hình Bộ quản lý nhà nước nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có chức năng gần giống nhau, giảm bớt sự chồng chéo, chia cắt giữa các Bộ; để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ lợi và phát triển nông thôn.

Từ ngày 03/10 – 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá IX thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi.

3) Thời kỳ tháng 8/2007 đến nay.

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (8/2007)

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ngày 03/01/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nghị định quy định “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật”.

3. Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thuỷ lợi (CPO):

Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thuỷ lợi (CPO) được thành lập theo Quyết định số 162 QĐ/TCCB-LĐ ngày 26/02/1994 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT).

Chức năng của CPO được quy định tại Điều 1 Quyết định số 3239/QĐ-BNN-TCCB ngày 22 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của CPO.

I. Vị trí và chức năng:

1) Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thuỷ lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được Bộ trưởng giao làm Chủ chương trình, dự án ODA thuỷ lợi (chủ đầu tư đối với chương trình, dự án đầu tư, chủ dự án đối với chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật gọi chung là chủ dự án) sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn vốn khác (nếu có) để quản lý, điều hành thực hiện và tổng hợp toàn dự án theo quy định của pháp luật và các điều ước Quốc tế về ODA.

2) Ban Quản lý Trung ương các dự án thuỷ lợi là tổ chức sự nghiệp kinh tế có tư cách pháp nhân,có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc hoặc Ngân hàng Nhà nựớc, trụ sở đặt tại 23 Hàng Tre, Hoàn Kiếm, TP.Hà Nội.

3) Tên giao dịch tiếng Anh đầy đủ: Central Office for Water Resources Projects; tên giao dịch thường dùng: Central Project Office viết tắt là CPO.

4) Kinh phí hoạt động của Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thuỷ lợi do Ngân sách Nhà nước cấp từ nguồn kinh phí sự nghiệp, nguồn vốn đối ứng, ODA và nguồn hỗ trợ khác theo dự toán chi phí quản lý hàng năm được Bộ phê duyệt và phân bổ cho các chương trình, Dự án thuộc Ban.

II. Nhiệm vụ và quyền hạn:

1) Làm đầu mối quan hệ với nhà tài trợ để giải quyết thủ tục, tổ chức thực hiện các dự án được giaotheo quy định tại các điều ước quốc tế cụ thể về ODA, Hiệp định vay và quy định hiện hành của Pháp luật;

2) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chủ dự án theo quy định tại Điều 11, 24,25, 30, 32, khoản2, khoản 3 Điều 35 và các Điều liên quan của Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ và Phát luật liên quan.

3) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chủ dự án theo quy định tại điều 9, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 41, 42, 58, 59, 61, 62, 63 Luật Đấu thầu và các Điều liên quan của Luật Đấu thầu, Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008 của Chính phủ và Phát luật liên quan; Điều 104 Luật Xây dựng và Điều ước Quốc tế về ODA đã ký kết.

Trưởng ban CPO được Bộ trưởng uỷ quyền Phê duyệt hồ sơ mời thầu các gói thầu của từng chương trình, dự án theo quy định của pháp luật; Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu theo phân cấp của Bộ trưởng.

Tổ chức quản lý, điều hành, triển khai thực hiện các chương trình, dự án (kể cả các dự án hỗ trợ kỹ thuật) theo các điều ước quốc tế cụ thể về ODA đã được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với các tổ chức này phù hợp với Luật Xây dựng và quy định hiện hành của Nhà nước.

4) Chủ trì, phối hợp các chủ dự án thành phần thực hiện nhiệm vụ tại các Điều 41, 45, 50 (không bao gồm điểm a khoản 1), 57 (không bao gồm điểm a khoản 1), Điều 59 (không bao gồm khoản 1), 68, 72, 75 (không bao gồm điểm a khoản 1) , 80, 81 (không bao gồm khoản 1), 87, 88, 89, 104 của Luật Xây dựng và các Điều liên quan của Luật Xây dựng, các Nghị định của Chính phủ số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005, số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006, số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004, số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 và pháp luật liên quan.

5) Quản lý hoạt động tư vấn quốc tế theo quy định tại Quyết định số 131/2007/QĐ-TTg ngày 09/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thuê tư vấn nước ngoài trong hoạt động Xây dựng tại Việt Nam.

6) Phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư để giải quyết những công việc cụ thể của từng dự án.

Trên cơ sở quy mô, tính chất, mức độ phức tạp của từng dự án và năng lực của chủ dự án thành phần. Bộ sẽ phân cấp cho chủ dự án thành phần theo đề xuất của CPO.

7) Tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư hàng năm và định kỳ, điều chỉnh cho các dự án trên cơ sở vốn đầu tư của từng dự án thành phần và kế hoạch khung thực hiện phù hợp với các quy định của Nhà nước và Văn kiện đã được ký kết, trình Bộ và điều hành các chủ dự án thành phần thực hiện sau khi Bộ phê duyệt.

8) Hướng dẫn, kiểm tra các chủ dự án thành phần quản lý thực hiện dự án theo quy định hiện hànhcủa Nhà nước và Văn kiện đã được ký kết.

9) Thực hiện các nhiệm vụ quản lý tài chính của chủ dự án:

a) Thực hiện công tác tài chính, kế toán theo quy định của Luật Ngân sách, Luật Kế toán, Văn kiệnvà các quy định hiện hành của nhà nước.

b) Làm chủ tài khoản đặc biệt /tài khoản tạm ứng của dự án tại các Ngân hàng thương mại Việt Namtheo quy định của Văn kiện.

c) Quản lý toàn bộ vốn vay của dự án; thực hiện việc thanh, quyết toán phần vốn vay cho các hoạt động của dự án theo đề nghị của các chủ dự án thành phần theo quy định của Nhà nước và của bên cho vay.

d) Giải ngân toàn bộ vốn vay của dự án theơ đúng chế độ, quy định của Nhà nước và các nhà tài trợ.

đ) Quản lý và thanh quyết toán phần vốn đối ứng và các nguồn vốn khác (nếu có) được Bộ giao.

e) Tổng hợp quyết toán hàng năm và báo cáo quyết toán hoàn thành toàn bộ dự án, trên cơ sở quyết toán của từng dự án thành phần theo quy định của Nhà nước.

10) Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất tháng, quý, 6 tháng, năm và tiến độ thực hiện toàn bộ dự án theo yêu cầu của Bộ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các nhà tài trợ theo quy định.

11) Tổng hợp các phát sinh điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án thống nhất với nhà tài trợtrình Bộ quyết định.

12) Được Bộ trưởng giao làm chủ dự án đối với các dự án thuỷ lợi thuộc nhiệm vụ của Bộ do Chính Phủ Việt Nam viện trợ ra nước ngoài theo quy định hiện hành của Nhà nước Việt Nam và Văn kiện đã được ký kết; tuỳ theo quy mô của từng dự án viện trợ, Bộ sẽ có quyết định tổ chức giao nhiệm vụ riêng.

13) Quản lý tổ chức, bộ máy, biên chế và tài sản của CPO theo quy định; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của CPO.

14) Thực hiện các quyền và trách nhiệm khác của chủ dự án theo quy định của pháp luật.

15) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ giao.

III. Cơ cấu tổ chức:

1) Lãnh đạo CPO:
Trưởng ban, các Phó trưởng ban do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy đinh hiện hành.

a) Trưởng ban quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động của CPO, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triền nông thôn, trước pháp luật về mọi hoạt động của CPO.

b) Phó trưởng ban giúp việc cho Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ cụ thể do Trưởng ban phân công, chịu trách nhiệm trước Trưởng ban và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ được phân cônghoặc uỷ quyền.

2) Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ:

a) Phòng Tổ chức, hành chính;

b) Phòng Kế hoạch, tổng hợp;

c) Phòng Thẩm định chế độ, dự toán;

d) Phòng Tài chính, kế toán;

đ) Phòng Môi trường, tái định cư.

e) Phòng Đào tạo.

Phòng có Trưởng, Phó phòng, các viên chức và các tổ chuyên môn, nghiệp vụ do Trưởng ban CPO quyết định bổ nhiệm, tuyển dụng theo quy định của Pháp luật và hướng dẫn của Bộ.

3) Ban quản lý dự án trực thuộc:

Ban quản lý dự án được thành lập và giải thể theo quy định của pháp luật.

a) Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA, gồm Giám đốc Ban QLDA, Phó Giám đốc (nếu có), kế toán và cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ.

Giám đốc Ban QLDA: Do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Trưởng ban CPO, giúp việc cho Trưởng ban CPO và chịu trách nhiệm toàn diện trước Trưởng ban, trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công hoặc uỷ quyền; được ký, đóng dấu các văn bản giao dịch liên quan đến hoạt động của dự án.

Cán bộ, viên chức của Ban QLDA, gồm: cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ và kế toán dự án được điều động biệt phái từ các Phòng trực thuộc CPO và bổ sung cán bộ hợp đồng mới để đáp ứng yêu cầu tiến độ dự án theo đề nghị của Giám đốc Ban QLDA.

Mỗi chức danh, vị trí công tác trong Ban Quản lý dự án phải có bản mô tả công việc do Giám đốc Ban QLDA xây dựng được công bố công khai trong Ban Quản lý chương trình dự án và chủ dự án.

b) Nhiệm vụ của Ban QLDA: Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Thông tư 03/2007/TT-BKH ngày 12/3/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý chương trình, dự án ODA; khoản 1 Điều 35 và các điều có liên quan của Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức để tổ chức, thực hiện dự án theo quy định và thực hiện các nhiệm vụ khác do Trưởng ban Ban CPO giao.

Trả lời