Báo cáo nhanh Tuyên Quang

Đoàn tư vấn giám sát ISC làm việc với PPMU Tuyên Quang

Kết quả giám sát Dự án sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8),

tỉnh Tuyên Quang

Thực hiện: Tư vấn Giám sát độc lập Bên thứ 3, bao gồm cả kiểm toán nội bộ (ISC)

(Kèm theo Văn bản số /CPO-WB8 ngày /5/2019 của Ban CPO)

I. GIÁM SÁT THỰC HIỆN DỰ ÁN:

Thông tin chung:

Tiểu dự án WB8 tỉnh Tuyên Quang đang triển khai thi công đợt 1: Hồ Ngòi Là 2, Đã thi công xong hạng mục tràn xả lũ và cầu qua tràn, gia cố mái hạ lưu, khoan phụt xử lý nền và thân đập. Đang thi công dở dang gia cố mái thượng lưu, nhà quản lý và đường trên mặt đập.

Đợt 2 gồm 13 hồ các loại đã xong KSTK đang trình bộ NN&PTNT và CPO.

Ban quản lý dự án đã có cơ cấu tổ chức với đầy đủ các bộ phận chuyên trách.

TVGS thuê đơn vị TVGS riêng biệt có đủ tư cách pháp nhân.

I.1. Thiết kế, thi công:

a) Hồ sơ thiết kế

Toàn bộ hồ sơ thiết kế đã được thông qua thấm tra, thấm định và phê duyệt, tuy nhiên sau khi xem xét hồ sơ đoàn TVGS đọc lập bên thứ 3 đề nghị xem xét lại và tính toán bổ sung hạng mục sau:

-Công trình Hồ Ngòi Là 2: Tường cánh đoạn 1,2 thân tràn bằng bê tông không có cốt thép kích thước hơi bé, trong phụ lục tính toán áp lực đất chỉ mới tính từ đỉnh tường xuống thiếu áp lực đất của mái nghiêng từ đỉnh tường lên đến mặt đường. Hiện tại tràn đã thi công xong. Đề nghị xem xét tính toán lại và có giải pháp nếu phải xử lý để công trình bảo đảm ốn định lâu dài.

– Về thi công hiện trường: Các hạng mục đã thi công xong tương đối sắc nét, hồ sơ quản lý chất lượng đầy đủ.

Tất cả những vấn đề trên đoàn TVGS bên thứ 3 đã họp bàn và đề nghị PPMU chỉ đạo các đơn vị liên quan xem xét và chấn chỉnh lại để công trình chất lượng.

b) Về cơ cấu của PPMU

Có đầyđủ các quyếtđịnh bổ nhiệm và phân công công tác cho từng thành viên.

c) Công tác thi công ngoài hiện trường

Tư vấn ISC đã tiến hành kiểm tra hồ Ngòi Là 2, tại xã Trung Môn, huyện Yên, tỉnh Tuyên Quang thuộc tiểu dự án số 1.

– Các công việc đã triển khai thi công theo hồ sơ thiết kế bao gồm: (1) Đập đất: đắp thêm phía hạ lưu để mở rộng mặt đập, gia cố trồng cỏ mái hạ lưu, gia cố khung bê tông + đá lát khan mái thượng lưu, đổ bê tông mặt đập và gờ chắn bánh, (2) Tràn xả lũ+ dốc nước+bể tiêu năng, (3) Cống lấy nước: làm mới cửa van vận hành, thay thế gioăng cao su cửa van sửa chữa, lắp đặt máy đóng mở VĐ5, (4) Xây dựng đường quản lý vận hành.

– Các công việcđã vàđang thực hiện tại thờiđiểm kiểm tra:

+ Hạng mục tràn xả lũ kết hợp cầu giao thông, dốc nước, bể tiêu năng: Đã hoàn thành.

+ Hạng mục trồng cỏ mái hạ lưu: Đã Thi công xong.

+ Gia cố mái thượng lưu bằng khung dầm Bê tông+Đá lát khan: Hoàn thành 70%.

+ Đường Quản lý vận hành: Đã Hoàn thành.

+ Cống lấy nước (Cống lấy nước: làm mới cửa van vận hành, thay thế gioăng cao su cửa van sửa chữa, lắp đặt máy đóng mở VĐ5): Chưa thi công.

+ Bê tông mặt đập+Gờ chắn bánh xe: Chưa thi công.

– Về chất lượng thi công:Các hạng mục đã thi công xong tương đối sắc nét, hồ sơ quản lý chất lượng đầy đủ.

I.2. Đấu thầu và quản lý hợp đồng:

1. Thực trạng:

a) Đấu thầu:

TDA 1:

-Tư vấn và phi tư vấn: Đã thực hiện xong toàn bộ 17/17 gói thầu.

– Xây lắp: Trao thầu gói thầu xây lắp hồ Ngòi Là 2.

TDA 2:

-Chỉ mới trao thầu 02 gói đó là Tư vấn lập FS&ATĐ và gói thầu các chính sách an toàn môi trường xã hội..

b) Quản lý hợp đồng:

Giá trị giải ngân khoảng 34,4 tỷ đồng/Tổng giá hợp đồng 49,9 tỷ đồng.Trong đó:

– Tư vấn và phi Tư vấn là 12,4 tỷ

– Xây lắp: 22tỷ.

2. Một số phát hiện.

a) Đấu thầu:

Thiếu các tài liệu chứng minh cho phần kê khai năng lực (nhân sự, máy móc thiết bị) và cam kết nguồn tín dụng cho gói thầu.

b) Quản lý hợp đồng:

– Quản lý tiến độ và chất lượng: Xem nhận xét của CG giám sát thi công. Tuy nhiên cần lưu ý hiện nay CĐT đang xem xét điều chỉnh từ các hạng mục công trình sau tràn sang làm được đường quản lý. Việc này có thể ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng.

– Quản lý chi phí đầu tư trong quá trình xây dựng:

+ Cần bổ sung đầy đủ các BB nghiệm thu A-B vào hồ sơ thanh toán.

+ Việc thanh toán cho các đơn vị tư vấn cần lưu ý đến thời gian huy động thực tế các chuyên gia tư vấn so với kế hoạch huy động như trong đề xuất/hợp đồng đã ký kết.

– Chấp thuận việc ủy quyền thanh toán và chuyển tiền về tài khoản của thành thầu đứng đầu liên danh có thể dẫn đến rủi ro cho CĐT trong trường hợp có tranh chấp giữa các nhà thầu.

– Quản lý ATLĐ và VSMT: Xem nhận xét của CG giám sát thi công và CG môi trường.

3. Nguyên nhân

– Chủ quan/thiếu kinh nghiệm trong quá trình đánh giá HSDT.

– Công trình vừa thi công nhưng vẫn phải phục vụ sản xuất.

4. Giải pháp đề xuất:

– Tăng cường năng lực cho Tổ chuyên gia.

– Dựa trên điều kiện thực tế lập lại tiến độ thi công có tính đến yếu tố bất thường về thời tiết, thay đổi thiết kế đảm bảo thời gian hoàn thành như trong hợp đồng đã ký kết.

– Tuân thủ các quy định về hồ sơ thanh toán và hướng dẫn về quản lý hợp đồng.

II – KIỂM TOÁN NỘI BỘ:

1. Thực trạng

-Tiểu dự án WB8 tỉnh Tuyên Quang bao gồm 02 tiểu dự án:

+ Tiểu dự án 1: Sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

+ Tiểu dự án 2 thuộc dự án Sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8) (Gồm 13 công trình thủy lợi: Trung Long, Hải Mô, Khe Thuyền, Cây Gạo, Minh Cầm, Nà Vàng, Ao Búc, Khuổi Thung, Hoàng Khai, Nà Heng, Cây Dâu, Ô Rô, Nà Lừa)

-Tổng giá trị giải ngân lũy kế đến 31/12/2018 là 33.103.654.000 đồng.

– Cơ cấu tổ chức kế toán bao gồm 01 kế toán trưởng và thủ quỹ, kế toán viên.

– Hệ thống Báo cáo tài chính và sổ sách kế toán đầy đủ theo quy định.

2. Phát hiện, nguyên nhân, giải pháp xử lý.

a. Phát hiện

Công tác kiểm kê quỹ tiền mặt chưa được thực hiện theo từng quý, thủ quỹ, kế toán và lãnh đạo đơn vị chỉ thực hiện kiểm kê tại ngày 31/12 chốt số dư kết thúc năm và lập biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt cả năm.

Việc lập và gửi biên bản đối chiếu công nợ với các nhà cung cấp đã được thực hiện tuy nhiên thời gian lập và gửi còn chậm nhiều sau ngày kết thúc năm, dẫn tới tình trạng số biên bản đối chiếu công nợ thu hồi lại sau khi đã được các nhà cung cấp xác nhận còn chưa đầy đủ, cụ thể:

+ Khoản Trả trước cho người bán đối chiếu được giá trị 4.286.872.000 đồng / số dư tại 31/12/2018 là 5.646.122.000 đồng, tương ứng tỷ lệ 76%;

+ Khoản Phải trả người bán đối chiếu được giá trị 2.734.383.500 đồng / số dư tại 31/12/2018 là 3.887.959.500 đồng, tương ứng tỷ lệ 70%

b. Nguyên nhân

Số dư quỹ tiền mặt ở các thời điểm trong năm thông thường không lớn, do đó kế toán và thủ quỹ đơn vị chưa chú trọng công tác kiểm kê hàng quý.

Do công tác chốt số liệu để lập và gửi biên bản đối chiếu công nợ của đơn vị còn chậm, chưa làm kịp thời ngay sau thời điểm khóa số liệu.

c. Giải pháp

Kiểm kê quỹ tiền mặt theo quỹ: lãnh đạo đơn vị cần chấn chỉnh công tác thực hiện của bộ phận kế toán và thủ quỹ, nghiêm túc thực hiện theo quy định và có sự giám sát kịp thời.

Đối chiếu công nợ: bộ phận tài chính kế toán cần nhanh chóng chốt số liệu năm để thực hiện lập và gửi biên bản đối chiếu công nợ, đồng thời tích cực liên hệ đôn đốc các nhà cung cấp kiểm tra xác nhận số liệu, nhằm kịp thời phát hiện các chênh lệch nếu có để xử lý.

III. GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN TOÀN MÔI TRƯỜNG & XÃ HỘI.

III.1. Về Tái định cư:

a. Thực trạng

Tiểu dự án “Sửa chữa nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2” là một trong 12 tiểu sự án được xác định hực hiện trong năm đầu của dự án Sửa chữa và nâng cao an toàn đập Việt Nam (DRSIP). Dự án DRSIP được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới để hỗ trợ Chương trình An toàn Đập đè xuấ bởi chính phủ Việt Nam để nâng cấp, sửa chữa, đảm bảo an toàn cho một số các đập và hồ chứa được ưu tiên.

Mục tiêu của dự án: Đảm bảo an toàn hồ chứa thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo tưới ổn định cho 1.054 ha diện tích sản xuất lúa và rau màu cả năm (trong đó 1 vụ = 414 ha lúa, 113 ha màu); cho 354,13 ha lúa 2 vụ, 6,11 ha màu vụ đông thuộc khu tưới hiên tại thộc các xã Trung Môn, Kim Phú huyện Yên Sơn, các phường Ỷ La, Tân Hà, Hưng Thành thuộc thành phố Tuyên Quang; cung cấp nước tưới cho 15 ha nuôi trồng thủy sản và hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường, cảnh quan khu vực lòng hồ và hạ du.

Phạm vi ảnh hưởng:

+ Việc triển khai nâng cấp sửa chữa hồ Ngòi là 2 ảnh hưởng có 35 hộ gia đình và 01 tổ chức trên địa bàn 02 xã Chân Sơn và Trung Môn. Trong đó có: 01 hộ BAH về nhà và vật kiến trúc (phải bố trí TĐC), các hộ còn lại chỉ BAH nhẹ.

+ Tổng diện tích đã thu hồi là 58.664,5 m2, trong đó:

· Đất nông nghiệp: 12.387,9 m2

· Đất thủy sản: 419,2 m2

· Đất rừng: 1.337,7 m2

· Đất khác (đất công cộng): 44.519,7 m2

b. Phát hiện, nguyên nhân, giải pháp.

Công bố thông tin và tham vấn cộng đồng:

Kết quả giám sát cho thấy việc phổ biến thông tin, tham vấn cộng đồng và sự tham gia của người dân trong khu vực Tiểu đã được thực hiện khá đầy đủ. Hoạt động phổ biến thông tin của dự án được bắt đầu Từ ngày 15/5/2017 đến ngày 18/5/2017.

Có ít nhất 04 cuộc họp tham vấn cộng đồng đã được tiến hành tại các xã Chân Sơn và xã Trung Môn, tổng số người tham dự là 107 người (85 nam và 22 nữ). Nội dung của cuộc họp tham vấn cộng đồng bao gồm các vấn đề: phổ biến thông tin của Tiểu dự án; hướng dẫn quy trình thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng; phổ biến chính sách đền bù giải phóng mặt bằng… Thành phần tham dự cuộc họp tham vấn cộng đồng bao gồm: đại diện Ban quản lý dự án, đại diện UBND các xã/phường, tổ trưởng các thôn/xóm và các hộ bị ảnh hưởng bởi Tiểu dự.

Kiểm kê tài sản bị thiệt hại và lập phương án bồi thường

Ngày 26/4/2017 UBND huyện Yên Sơn ban hành Thông báo số 36/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện xây dựng công trình: Sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2 xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Quá trình kiểm đếm cho các hộ BAH được chia làm 2 đợt:

+ Kiểm đếm Đợt 1 – giai đoạn 1: Từ ngày 23/5/2017 đến ngày 30/7/2017

+ Kiểm đếm Đợt 2 – giai đoạn 1: Từ ngày 07/6/2018 đến ngày 30/8/2018

Tất cả các hộ gia đình được phỏng vấn cho biết kết quả kiểm đếm được thông báo lại cho hộ sau khi kết thúc buổi kiểm đếm và niêm yết tại trụ sở UBND xã. Biên bản kiểm kê của mỗi hộ gia đình BAH thể hiện rõ loại đất, vị trí đất, loại và số lượng cây cối, diện tích hoa màu BAH.

Sau khi kết thúc quá trình kiểm kê, chi nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Yên Sơn (nay là Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Yên Sơn) đã tiến hành lập phương án bồi thường, công khai dự thảo phương án bồi thường, tiếp thu và giải quyết các kiến nghị của người bị ảnh hưởng, trình UBND huyện Yên Sơn xem xét, phê duyệt phê duyệt các 03 phương án bồi thường như sau:

Ngày 25/10/2017 UBND huyện Yên Sơn có Quyết định số 164/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2 xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (đợt 1, giai đoạn1)

Ngày 18/12/2017 UBND huyện Yên Sơn có Quyết định số 209/QĐ-UBND về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2 xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (đợt 2, giai đoạn 1)

Ngày 14/3/2019 UBND huyện Yên Sơn có Quyết định số 96/QĐ-UBND về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2 xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (đợt 3, giai đoạn 1).

Chi trả tiền bồi thường

Việc chi trả tiền bồi thường hỗ trợ cho các hộ được chia thành 2 lần và được chi trả tại nhà văn hóa của các thôn/xóm:

-Lần 1: (từ 06 – 07/02/2018): Chi trả theo các Quyết định của UBND huyện Yên Sơn số 164/QĐ-UBND ngày 25/10/2017 và Quyết định số 209/QĐ-UBND ngày 18/12/2017 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Sửa chữa, nâng cấp đảm bảo an toàn hồ chứa nước Ngòi Là 2 xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

– Lần 2: Chi trả vào ngày 22/3/2018. Chi trả theo Quyết định số 96/QĐ-UBND ngày 14/3/2019 của UBND huyện Yên Sơn về việc phê duyệt bổ sung phương án bồi

Tính đến thời điểm báo cáo, có 35/35 hộ gia đình và 01/01 tổ chức đã nhận tiền bồi thường. Tổng số tiền đã trả bồi thường: 3.659.550.000/3.659.550.000 đồng.

Giám sát nội bộ

PPMU Tuyên Quang đã có một cán bộ chuyên trách vấn đề liên quan đến công tác thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Tiểu dự án. Cán bộ phụ trách TĐC của Tiểu dự án cũng đã nắm được những chính sách bồi thường của nhà tài trợ và của dự án. Cán bộ phụ trách TĐC đã theo sát công việc và xây dựng mối quan hệ và kết nối rất tốt và chặt chẽ giữa Ban Quản lý Dự án, Hội đồng Bồi thường và Ủy ban Nhân dân Xã trong việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng.

Tuy nhiên các vấn đề chính sách an toàn chưa được chú trọng và chưa được các cơ quan thực hiện hiểu rõ, đặc biệt là các chính sách liên quan đến các vấn đề xã hội và thực hiện Kế hoạch hành động giới.

Hỗ trợ người dễ bị tổn thương và ổn định nâng cao đời sống

Các chính sách hỗ trợ, phục hồi sinh kế cho các hộ BAH được thực hiện theo Khung CS TĐC của dự án và theo Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh Tuyên Quang

BQLDA đã phối hợp với các thành viên Tổ giúp việc cho Hội đồng bồi thường, rà soát, xác minh đối tượng và áp dụng mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp từ 3-5 lần giá trị đất bị ảnh hưởng đối với tất cả các gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo người dân có thể phục hồi sinh kế sau khi bị thu hồi đất.

Các chính sách hỗ trợ cho hộ BAH là hộ dễ bị tổn thương: Hỗ trợ cho 01 hộ do phụ nữ đơn thân làm chủ hộ, mức hỗ trợ 2.000.000 đồng/hộ.

Khiếu kiện, khiếu nại

Theo kết quả làm việc với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan, trong khu vực Tiểu dự án chỉ có duy nhất hộ ông Nguyễn Duy Thành chưa bàn giao toàn bộ mặt bằng, hộ đang có kiến nghị được mua đất tái định cư.

BQLDA đã có các văn bản số 334/DANN-QLDA ngày 19/3/2019; số 401/DANN ngày 08/4/2019 đề nghị UBND huyện Yên Sơn bố trí tái định cư cho hộ ông Thành. Trong thời gian tới, BQLDA sẽ tiếp tục theo dõi, đề nghị UBND huyện Yên Sơn phối hợp thực hiện. Dự kiến hoàn thành trong tháng 5/2019.

Các vấn đề khác tại PPMU

PPMU Tuyên Quang cũng mong muốn được hướng dẫn thêm về thực hiện và giám sát chính sách an toàn xã hội để có thể triển khai tốt hơn ở những tiểu dự án tiếp theo.

Việc lưu trữ hồ sơ, văn bản giấy tờ: Tất cả các hồ sơ, giấy tờ liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ cho các hộ BAH đều được lưu giữ rất đầy đủ.

III.2. Giới và Dân tộc thiểu số:

1. Thực trạng

a. Kết quả 1: Nâng cao an toàn đập, cải thiện điều kiện thủy lợi

1.1.1. Các chỉ số đã đạt

– Tất cả các TDA đều: Không thuê lao động trẻ em. Thực tế khảo sát không thấy có trẻ em tham gia lao động và trong hợp đồng thi công giữa nhà thầu và Ban QLDA cũng đã đề cập đến điều khoản này

– Tất cả các TDA Lao động nam và nữ sẽ nhận được tiền công lao động như nhau cho cùng một loại công việc; Tiền công giao động từ 180-280 nghìn/ngày, chưa bao gồm tiền ăn trưa. Tuỳ từng mức độ công việc khác nhau mà mức lương sẽ khác nhau

1.1.2. Các chỉ số chưa đạt/chưa thực hiện:

– Không có con số thống kê cụ thể về tỷ lệ lao động phổ thông ( đạt 30%) của địa phương và ưu tiên lao động nữ tại các TDA Tuyên Quang.

– Chưa có số liệu thống kê về việc ưu tiên hộ nghèo, hộ dễ bị tổn thương tham gia vào lao động phổ thông. Chưa có sự kết nôi giữa nhà thầu và chính quyền địa phương các xã. Tuy nhiên một số nhà thầu thường kết nối trực tiếp với trưởng thôn để tìm kiếm lao động địa phương như tại Tuyên Quang hoặc tuyển dụng những hộ bị ảnh hưởng ngay gần khu vực thi công TDA.

b. Kết quả 2: Tăng cường năng lực cho người dân để khai thác lợi thế của tiểu dự án

Chưa thực hiện hoạt động của kết quả này để đạt Tối thiểu 30% phụ nữ tham gia vào các buổi học khuyến nông

c. Kết quả 3: Nâng cao nhận thức về các tệ nạn xã hội tiềm năng cho các đối tượng dễ bị tổn thương

– Chưa thực hiện: Chương trình phòng chống HIV/AIDS và buôn bán người:

– Chưa thực hiện: Chương trình giảm thiểu rủi ro dựa vào cộng đồng: Thông tin về giảm thiêu rủi ro sẽ được chuyển tới các xã, thôn BAH bởi dự án sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia với trọng tâm là các hộ nghèo và các hộ dễ bị tổn thương (ví dụ nhóm người DTTS, hộ gia đình có chủ hộ là nữ, hộ có người già, người tàn tật)

– Chưa thực hiện: Các tài liệu, thông tin phải phù hợp về ngôn ngữ, văn hóa và giới, đặc biệt cần phải dịch ra nhiều thứ tiếng dân tộc tùy thuộc vào từng vùng;

– Chưa thực hiện: Hội phụ nữ, đại diện trung tâm phòng chống HIV/AIDS và xã sẽ đào tạo các tuyên truyền viên cho mỗi xã/thôn trong vùng dự án.

– Chưa thực hiện: Chương trình sẽ được thực hiện tại các thôn và trong phiên chợ thông qua phân phát tài liệu dự án, tài liệu về chương trình và sử dụng loa phóng thanh

Chương trình giảm thiểu nguy cơ trong quá trình xây dựng:

– Chưa thực hiện: PMU và nhà thầu sẽ phối hợp chặt chẽ với các dịch vụ y tế ở xã, huyện để triển khai các chương trình nâng cao nhận thức, đào tạo, phòng, chuẩn đoán và điều trị bệnh cho người lao động.

– Chưa thực hiện: Tất cả các chương trình và tài liệu được xây dựng có lồng ghép các vấn đề giới, bao gồm tính dễ bị tổn thương và nhu cầu của nam và nữ.

– Chưa thực hiện: Nhà thầu sẽ: Triển khai các chương trình tăng cường nhận thức cho người lao động và cộng đồng bao gồm thông tin, giáo dục, tuyên truyền đề cập đến vấn đề lây nhiễm HIV và hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa.

– Chưa thực hiện: Tư vấn miễn phí và khuyến khích người lao động xét nghiệm HIV để đảm bảo rằng tất cả họ biết về tình trạng sức khỏe của mình.

– Chưa thực hiện: Hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế và động viên những người nhiễm HIV thừa nhận họ đã nhiễm HIV;

– Chưa thực hiện: Cung cấp các thiết bị y tế (phát bao cao su miễn phí) cho công nhân tại lán trại;

Tuy nhiên về phía các nhà thầu cũng đã tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho các công nhân viên và cũng đã có tư vấn cho các cán bộ công nhân viên, lao động tìm đến trạm y tế xã khi cần thiết cần được tư vấn. Tại các nhà thầu chưa có cán bộ chuyên trách, kinh nghiệm tập huấn, truyền thông về phòng chống HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục

d)Kết quả 4: Quản lý dự án

– Chưa thực hiện: Đào tạo/tập huấn nâng cao nhận thức về Giới sẽ được cung cấp cho nhân viên Ban QLDA, các tổ chức địa phương và các nhà thầu.

– Chưa thực hiện: Tất cả các hoạt động phát triển năng lực sẽ bao gồm các mục tiêu cho phụ nữ tham gia và dân tộc thiểu số.

III. 3. Về Dân tộc thiểu số:

1.NGUYÊN NHÂN CHƯA THỰC HIỆN GAP – EMDP

– Tại tất cả các tiểu dự án khảo sát đêu có cán bộ được phân công nhiệm vụ về chính sách an toàn xã hội. Tuy nhiên lại chưa được đào tạo, tập huấn các chính sách an toàn của WB

– Chưa có kinh nghiệm thực hiện các dự án của nhà tài trợ nên chưa biết thực hiện như thế nào.

– Tư vấn thực hiện các báo cáo SA/ESIA chưa nói rõ với các ban về tầm quan trọng của việc thực hiện các chính sách an toàn của WB trong quá trình triển khai dự án. Khi báo cáo SA/ESIA được phê duyệt các ban cũng không rõ hoạt động này sẽ tiếp tục cần triển khai như thế nào? Ai thực hiện? ngân sách cần lấy từ đâu.

– Về phía các ban gặp khó khăn về vốn đối ứng vượt trần nợ công do vậy cần phải xin ý kiến của tỉnh để xin thêm vốn để triển khai. Tiến hành lồng ghép các hoạt động, tận dụng các nguồn lực sẵn có của địa phương.

2.CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI KHÁC

Qua thực tế khảo sát tại hiện trường và phỏng vấn một số hộ dân, người lao động tư vấn nhận thấy còn một số tồn đọng:

– Một số nhà thầu chưa có đường dây nóng/số điện thoại liên quan tới công tác tư vấn chăm sóc, sức khoẻ, khám chữa bệnh cho các cán bộ/công nhân viên, người lao động

– Các lao động phần nhiều chưa được tập huấn về phòng chống HIV/AIDS, STIs.

– Một số lao động đang làm việc chưa có hợp đồng, cũng như chưa được đóng bảo hiểm theo quy định

– Một số nán trại chưa đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường như chưa có thùng rác, nhà vệ sinh còn tạm bợ. Nhà tắm không kín đáo

– Một số nhà thầu chưa có tủ thuốc được đặt tại khu nán trại, nhà điều hành hay tủ thuốc lưu động tại công trường. Một số tủ thuốc chưa có bao cao su còn nghèo nàn ít thuốc.

– Việc xe tải chuyên trở nguyên vật liệu thi công quá trọng lượng đã làm hỏng, nún đường đi lại của bà con. Hoặc xe chở vật liệu đi chung với đường đi lại của dân địa phương, bụi bẩn, thiếu che chắn, không được tưới nước rửa đường. Người dân phản ánh rất nhiều về tình trạng bụi bặm.

– Việc xả nước, tháo nước trong hồ đập trong quá trình thi công cần thông báo với tần suất nhiêu hơn nữa đối với hộ dân để nguòi dân nắm rõ tránh tình trạng nước hồ cạn gây thiệt hải việc nuôi trồng thuỷ sản/cá của bà con.

– Đơn vị thi công thiếu/không có các biển báo hiệu cần thiết (Biển báo công trình, biển cảnh báo khu vực nguy hiểm, số điện thoại liên hệ, biển chỉ dân an toàn, nội quy công trường, thiếu bình phòng cháy chữa cháy…)..

3.KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT

a) Kết luận:

– Các Tiểu dự án tại Tuyên Quang chưa thực hiện lồng ghép GAP và EMDP. Tuy nhiên, một vài chỉ số trong GAP cũng đã đạt được như không sử dụng lao động trẻ em, nhà thầu có tuyển dụng lao động địa phương, lao động nữ và các hộ bị ảnh hưởng gần ngay khu vực thi công các hồ, đập.

b) Đề xuất:

Về phía Ban QLDA

– Tư vấn hỗ trợ ban thực hiện báo cáo SA/ESIA cũng cần trao đổi rõ với các ban về việc vì sao cần phải thực hiện những chính sách an toàn của WB. Cũng như hướng dẫn các ban về việc thực hiện, ngân sách thực hiện cho các hoạt động này.

– Cần có chuyên gia/tư vấn hướng dẫn thực hiện các chính sách an toàn của WB như đã đề xuất trong các báo cáo SA/ESIA đã được lập.

– Từ phía cán bộ chịu trách nhiệm theo dõi thực hiện các chương trình chính sách an toàn cũng cần được tham gia tập huấn, đào tạo . Bên cạnh đó, họ cũng cần cam kết sẽ tham gia thực hiện lâu dài trong suốt quá trình thực hiện dự án. Trường hợp cán bộ đó không còn làm trong dự án cũng cần truyền đạt lại những nội dung này cho người kế nghiệp nhiệm vụ của mình.

– Ban QLDA cũng cần đưa ra công văn/ thông báo với các bên liên quan cùng phối hợp với các nhà thầu, chính quyền địa phương thực hiện các chỉ số như đã đề cập trong GAP – EMDP

Về phía các nhà thầu

– Cũng cần phải lập các biểu mẫu theo dõi nhân sự của đơn vị. Bên cạnh đó những điều khoản được cam kết/ký về các chính sách an toàn trong hợp đồng giữa nhà thầu với ban quản lý cũng cần phải thực hiện. Tránh trường hợp đưa ra nhưng không/chưa thực hiện như hiện nay.

– Nhà thầu cũng phải cử cán bộ theo dõi, chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách an toàn xã hội theo như yêu cầu. Các cán bộ này cũng cần được tập huấn, đào tạo về chính sách WB

– Nhà thầu cần có sự kết nối, thông báo tuyển dụng đến với chính quyền địa phương sở tại, với trưởng thôn, chi hội phụ nữ các thôn về nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông, lao động nữ, lao động là các hộ BAH.

– Tại các nán trại của nhà thầu cần đảm bảo an toàn, sạch sẽ cho các công nhân. Tủ thuốc cố định và di động cũng cần phải có trong các nhà thầu. Trong tủ thuốc ngoài các loại thuốc thiết yếu, bông băng cũng cần phải có bao cao su sẵn có được đặt trong đó.

– Nhà thầu cũng cần phải có số điện thoại, đường dây nóng ít nhất là của trạm y tế xã tư vấn về chăm sóc sức khoẻ cho các cán bộ công nhân viên, người lao động. Số điện thoại cần dán ngay tại nán trại, nhà điều hành của đơn vị thi công.

– Đối với các lao động nhà thầu cần phải có hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm y tế, xã hội đầy đủ.

III.4. VỀ MÔI TRƯỜNG

1. Khối lượng công việc và tiến độ thi công

Tiu d án WB8 có 14 h do Ban qun lý dán đu tư xây dng các công trình Nông nghip và Phát trin nông thôn tnh Tuyên Quang làm Ch đu tư. Giai đon 1 h cha Ngòi Là có giá tr khi lưng hoàn thành đt khong 60% khi lưng giá tr hp đng.

2. Công tác tổ chức và nhân sự giám sát an toàn môi trường

– Ban qun lý d án (PPMU) Tuyên Quang đã có cơ cu t chc vi nhiu các b phn chuyên trách khác nhau, trong đó có 2 cán b ph trách v chính sách an toàn môi trưng và xã hi.

– Cán b ph trách v an toàn môi trưng ca tư vn giám sát và nhà thu thi công ti thi đim đoàn kim tra không có mt ti công trưng

3. Một số tồn tại cần khắc phục và khuyến nghị của đoàn giám sát

TT

Phát hiện

Khuyến nghị

1

Tổ chức nhân lực và tập huấn về an toàn môi trường:

– Cán bộ phụ trách về công tác an toàn môi trường và vệ sinh lao động của nhà thầu và giám sát thi công không có mặt thường xuyên trên công trường.

-PPMU cần kiểm tra và yêu cầu tư vấn giám sát và nhà thầu thi công phải bố trí cán bộ chuyên trách về công tác an toàn môi trường và vệ sinh lao động thường xuyên có mặt tại công trường để đảm bảo công tác kiểm tra và giám sát nhà thầu tuân thủ các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường trong suốt quá trình thi công.

2

Chưa cung cấp được đầy đủ các giấy tờ:

– Các giấy tờ pháp lý liên quan tới công tác vận chuyển chất thải kèm tuyến đường vận chuyển cụ thể

– Giấy tờ minh chứng công tác tập huấn an toàn môi trường của nhà thầu cho công nhân

– Hợp đồng thu gom và vận chuyển xử lý chất thải nguy hại

– Nhà thầu cần lập đầy đủ các hồ sơ về công tác an toàn

– PPMU và Tư vấn giám sát cần đôn đốc nhà thầu tuân thủ đầy đủ các quy định và có đủ các giấy tờ pháp lý mới cho thi công

3

Công tác tập huấn an toàn môi trường cho công nhân tham gia thi công trên công trường

Nhà thầu cần cung cấp giấy tờ chứng minh công tác tập huấn về công tác an toàn cho toàn bộ công nhân đã được thực hiện. Tư vấn giám sát cần kiểm tra đầy đủ và đảm bảo công nhân đã được tập huấn mới được tham gia thi công trên công trường.

4

Biển báo công trình tại khu công trường đã có nhưng chưa đầy đủ.

Yêu cầu nhà thầu bổ sung thêm thông tin: Người đứng đầu có thể giải quyết các khiếu nại kèm số điện thoại liên lạc của cả chủ đầu tư, tư vấn giám sát và nhà thầu thi công

6

Các khu vực thi công nguy hiểm như hố đào,… chưa được rào chắn cẩn thận, thiếu biển cảnh báo nguy hiểm

Nhà thầu cần lập ngay hàng rào chắn tại các khu vực nguy hiểm do thi công và có biển cảnh báo, có thể sử dụng đèn chiếu sáng vào ban đêm tại khu vực nguy hiểm hoặc đèn phản quang.

7

Công nhân chưa được trang bị quần áo, thiết bị bảo hộ.

Nhà thầu cần trang bị ngay và đầy đủ quần áo và thiết bị bảo hộ cho công nhân, đồng thời có chế tài đối với công nhân không sử dụng.

8

Rác thải nguy hại:

– Nhà thầu chưa có hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom và xử lý chất thải nguy hại tại khu công trường và khu lán trại công nhân

– Tại khu công trường và khu lán trại công nhân, nhà thầu cần trang bị ít nhất mỗi nơi 01 thùng chứa chất thải nguy hại (có nhãn, có nắp đạy) không để hiện tượng dầu thải loang lổ trên phạm vi công trường.

– Bố trí ít nhất 01 vị trí để tập kết các chất thải nguy hại. Vị trí tập kết này phải được xây dựng theo đúng quy định (có mái che, nền chống thấm và có biển báo,…)

9

Lán trại công nhân chưa đảm bảo, mang tính chất tạm bợ, công tác vệ sinh môi trường chưa đảm bảo vệ sinh và an toàn cho công nhân

– Nhà thầu phải thường xuyên nhắc nhở công nhân giữ gìn vệ sinh, dọn dẹp khu nán trại và khu công trường. Bố trí và phân công người làm công tác vệ sinh môi trường hàng ngày